Trong lịch sử khoa học Việt Nam, có những con người lặng thầm cống hiến, không vì danh vọng mà vì khát khao khám phá và trách nhiệm với tương lai. GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ là một trong số đó. Ông không chỉ là nhà khoa học đầu ngành về khí tượng – thủy văn mà còn là người tiên phong đưa khái niệm biến đổi khí hậu vào Việt Nam, mở ra hướng đi chiến lược trong nghiên cứu và ứng phó thiên tai. Nhưng trước khi trở thành một tượng đài khoa học, ông đã đi qua hành trình đầy thử thách, với ý chí kiên cường và tình yêu trọn đời dành cho khoa học và thiên nhiên.
Từ cậu bé nghèo đến nhà khoa học đầu ngành
Sinh năm 1937, trong một gia đình đông con, tuổi thơ của Nguyễn Đức Ngữ là những chuỗi ngày chật vật. Cha mất sớm, mẹ một mình nuôi 12 người con, ông phải nghỉ học từ lớp 7 để lao động phụ giúp gia đình. Nhưng giữa những bộn bề cơm áo, có một thứ ông không bao giờ từ bỏ: ước mơ học tập.
Năm 1955, khi cơ hội đến, ông đăng ký theo học khóa sơ cấp khí tượng, rồi trở thành cán bộ tại Trạm Khí tượng Yên Bái, sau đó về công tác tại Đài Vật lý Địa cầu Phù Liễn. Vừa làm việc, ông vừa miệt mài tự học, hoàn thành chương trình phổ thông trong hoàn cảnh mà nhiều người khác có thể đã bỏ cuộc. Sự kiên trì ấy đã đưa ông đến cánh cửa của Đại học Tổng hợp Nam Kinh (Trung Quốc) và sau đó là Ba Lan – nơi ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học.
 |
GS Nguyễn Đức Ngữ tại Hội nghị Biến đổi khí hậu năm 1991. Ảnh NVCC |
Nhưng dù đi xa đến đâu, ông chưa bao giờ quên rằng khoa học phải gắn liền với thực tiễn. Trở về Việt Nam giữa thời kỳ chiến tranh ác liệt, ông đạp xe xuyên bom đạn, đi qua những vùng đất khắc nghiệt nhất như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh để khảo sát khí hậu. Những năm tháng đó đã rèn giũa trong ông không chỉ tri thức mà còn cả tinh thần của một chiến sĩ trên mặt trận khoa học.
Nhà khoa học thay đổi nhận thức về khí hậu Việt Nam
Năm 1976, công trình của GS. Nguyễn Đức Ngữ về khí hậu miền Bắc Việt Nam đã chấm dứt cuộc tranh luận kéo dài giữa các nhà khí tượng và địa lý. Trước đó, một số quan điểm cho rằng miền Bắc có khí hậu á nhiệt đới, dẫn đến việc trồng lúa mì, khoai tây, cừu… – những giống cây trồng, vật nuôi không phù hợp, gây thiệt hại nặng nề cho nông nghiệp. Ông đã khẳng định rõ ràng rằng miền Bắc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, từ đó định hướng lại chính sách nông nghiệp, góp phần thay đổi nhận thức khoa học của cả một thế hệ.
Không dừng lại ở đó, ông tiếp tục nghiên cứu sâu về khí hậu Tây Nguyên, tham gia hai chương trình khảo sát lớn và xuất bản cuốn sách Khí hậu và biến đổi khí hậu Tây Nguyên (1985). Công trình này không chỉ giúp đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội, mà còn đóng góp cho quốc phòng, an ninh tại vùng đất chiến lược này.
 |
Cuốn sách Khí hậu và biến đổi khí hậu Tây Nguyên do GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ làm chủ biên. Ảnh NVCC |
Với những nghiên cứu mang tính nền tảng, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học tại Ba Lan năm 1988 và được GS. Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu đánh giá rất cao. Năm 1992, ông được phong hàm Giáo sư và trở thành một trong những chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về khí hậu.
Người mở đường cho nghiên cứu biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Từ đầu những năm 1990, khi khái niệm “biến đổi khí hậu” còn xa lạ với nhiều người, GS. Nguyễn Đức Ngữ đã sớm nhận ra tầm quan trọng của vấn đề này. Ông là trưởng đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Khí hậu Thế giới lần thứ hai tại Thụy Sĩ, sau đó cùng cộng sự Nguyễn Trọng Hiệu công bố nghiên cứu đầu tiên về biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Những nghiên cứu của ông đã giúp Việt Nam chuẩn bị tham dự Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc (1992), nơi Việt Nam chính thức ký Công ước Khung về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC). Từ đó, ông tiếp tục chủ trì nhiều dự án quốc tế về biến đổi khí hậu, xây dựng bản đồ khí hậu trong chương trình “Át-lát Quốc gia” – công trình nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005.
 |
GS Nguyễn Đức Ngữ tại một Hội nghị quốc tế. Ảnh NVCC |
Cuốn sách "Biến đổi khí hậu" (2008) do ông chủ biên là tài liệu đầu tiên cung cấp cái nhìn toàn diện về hiện tượng này tại Việt Nam. Chính những đóng góp của ông đã đặt nền móng cho Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi Khí hậu, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 12/2008.
Người thầy, nhà quản lý tận tụy
Không chỉ là nhà khoa học xuất sắc, GS. Nguyễn Đức Ngữ còn là người thầy tận tâm, người lãnh đạo liêm chính. Ông từng giữ chức Viện trưởng Viện Khí tượng Thủy văn, Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương. Dù ở cương vị nào, ông cũng luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, đóng góp cho các chính sách phòng chống thiên tai, phát triển bền vững.
Từ năm 2002, dù đã nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy, làm chủ nhiệm nhiều dự án quan trọng về ENSO, biến đổi khí hậu, và tham gia đào tạo nhiều thế hệ nhà khoa học trẻ.
 |
GS Nguyễn Đức Ngữ chụp ảnh trong lễ bảo vệ Luận văn của học trò. Ảnh NVCC |
Di sản của một đời cống hiến
Với những đóng góp to lớn, GS. Nguyễn Đức Ngữ đã được trao tặng nhiều danh hiệu cao quý: Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ, Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng và nhiều huy chương, bằng khen khác của các Bộ, Ban, Ngành trong và ngoài nước.
 |
GS Nguyễn Đức Ngữ trong một lần gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh NVCC. |
Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất chính là những công trình khoa học mang lại giá trị thực tiễn to lớn, là những thế hệ học trò tiếp nối con đường ông đã đi.
Dù mái tóc đã bạc theo năm tháng, nhưng ánh mắt của ông vẫn luôn rực sáng khi nói về khí hậu, về những cơn gió, dòng nước, những quy luật thiên nhiên mà cả đời ông đã dành tâm huyết để thấu hiểu.
GS. Nguyễn Đức Ngữ không chỉ là một nhà khoa học, mà còn là một người truyền lửa, một minh chứng cho nghị lực vươn lên và tinh thần cống hiến trọn đời vì khoa học, vì đất nước.
Ông đã lặng lẽ đi qua những năm tháng, để lại phía sau không chỉ là những trang sách, những bản đồ khí hậu, mà còn là một tấm gương, một di sản bất tử trong lòng bao thế hệ.
Mời quý độc giả đón xem video phỏng vấn của Báo Tri thức và Cuộc sống với GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ để hiểu rõ hơn những thử thách và ý chí vươn lên của ông trong quá trình làm khoa học.
Trần Liên